BỆNH CƯỜNG GIÁP TRẠNG
(Hyperthyroidism)
BS. Nguyễn Văn Đức
Rosemead, CA 91770
(626) 288-3306
(www.hqtysvntd.org)
Giáp trạng (thyroid gland) là một
tuyến nhỏ h́nh móng ngựa, nằm ở trước
cổ, phía dưới cục xương lộ ra.
Tuyến tiết kích thích tố thyroxine.
Tên khoa học của thyroxine lằng nhằng, nên
người ta hay gọi tắt nó là T4. Không chất nào
trong cơ thể có tác dụng đa năng như T4. Nó điều
khiển sự biến dưỡng của các cơ quan
trong cơ thể, thúc đẩy mọi tế bào làm việc,
kiểm soát sự sử dụng năng lượng, cung
cấp các chất cần cho sự hoạt động của
tế bào. Nó c̣n ảnh hưởng đến sự khôn
lớn và trưởng thành của tất cả các
tế bào.
Trên óc ta, có một
tuyến, gọi tuyến năo thùy (pituitary gland). Tuyến này
thuộc hàng giám đốc, giám thị và đốc thúc các
tuyến khác làm việc. Tuyến năo thùy tiết những
chất có tác dụng kích thích những tuyến dưới
quyền: giáp trạng, thượng thận (adrenal glands),
buồng trứng (ovaries), dịch hoàn (testicles), ... Trong
những chất ấy, có chất TSH (thyroid stimulating hormone),
làm công việc kích thích tuyến giáp trạng, thúc
đẩy tuyến giáp trạng chăm chỉ tiết
đủ T4 cho cơ thể. Nhờ sự tận tụy
của tuyến năo thùy, ḍm chừng và thúc đẩy
tuyến giáp trạng, cơ thể ta luôn có đủ T4
để hoạt động, và khi thử máu, ta thấy cả
T4 lẫn TSH đều b́nh thường, không tăng cao hay
xuống thấp. Tuyến năo thùy cũng điều
động các tuyến quan trọng khác của cơ
thể với cơ chế tương tự.
Giá cứ điều
ḥa như thế, kể cả những việc khác của
cuộc đời. Được vậy th́ sướng
quá, mọi người sinh ra, mạnh khỏe, ngao du cơi
thế đủ ba vạn tám ngh́n ngày, rồi một
đêm nằm ngủ không dậy nữa, êm đềm ra
khỏi cuộc đời. Nhưng tuyến giáp trạng
nó lại hay gây rắc rối, cho cuộc đời ta thêm
phiền. Nhất là ở phụ nữ. Nó có thể
trở thành cường (hyperthyroidism), suy (hypothyroidism), hoặc
chẳng cường, chẳng suy, nhưng cứ lừng
lững to lên thành bướu lành, hoặc ung thư. Đă
vậy, thỉnh thoảng nó c̣n bị viêm
(thyroiditis).
Trong bài này, ta bàn về
“cường tuyến giáp trạng” (hyperthyroidism), t́nh
trạng tuyến hoạt động mạnh quá.
Có đến ba bốn
kiểu cường tuyến giáp trạng: toàn thể tuyến
cùng cường, cùng tiết ra nhiều T4 và to lên; có khi toàn
tuyến không to lên, nhưng nổi một hoặc nhiều
cục u lổn nhổn và chất T4 chỉ tiết
nhiều hơn b́nh thường ở những chỗ trong
tuyến có các cục u này (toxic adenoma hay toxic multinodular
goiter). Lại có khi tuyến giáp trạng cường, âm
thầm tiết nhiều T4, nhưng chẳng to lên tí nào
(nhiều vị có tuổi bị cường giáp trạng
loại này). Loại cường tuyến giáp trạng
nhiều nhất là loại toàn thể tuyến cùng cường
và to lên. Loại bệnh này chiếm đến 90% các
trường hợp cường tuyến giáp trạng, có
tên đặc biệt là “bệnh Graves”, hay “bệnh Basedow”.
V́ đâu lại có
bệnh cường tuyến giáp trạng?
Nguyên nhân gây bệnh c̣n
nhiều chỗ mù mờ, nhưng trong loại bệnh
cả tuyến cùng cường và to lên (bệnh Graves hay
bệnh Basedow), người ta cho rằng v́ lư do nào chưa
rơ, tự dưng, cơ thể tạo ra những kháng
thể có tác dụng kích thích (thyroid-stimulating antibodies),
giả dạng TSH, đến bám vào các tế bào của
tuyến giáp trạng, chỗ b́nh thường TSH vẫn
hay bám vào để điều ḥa sự làm việc của
tuyến giáp trạng (TSH receptors). Bám trụ nơi
những chỗ ấy, chúng bắt chước TSH, đánh
lừa, thúc đẩy tuyến giáp trạng hoạt
động mạnh bất thường, tiết ra
nhiều chất T4 quá. Đời đâu cũng đầy
những lừa đảo.
Định
bệnh
Khi tuyến giáp
trạng tiết ra quá nhiều chất T4, bộ máy cơ
thể ta sẽ chạy nhanh hơn. Máy chạy nhanh,
tỏa nhiều nhiệt, nên người bệnh lúc nào
cũng nóng nảy, kém chịu nóng (heat intolerance), toát mồ
hôi, tinh thần căng thẳng, mất ngủ, tính t́nh
thất thường, lúc nóng lúc nguội, tay chân run rẩy.
Người bệnh ăn nhiều mà vẫn xuống cân,
yếu mệt, tim đập nhanh, hồi hộp, khó
thở, tiêu chảy, kinh ra ít. Các bắp thịt tay chân
yếu, mất sức, biểu hiệu rơ nhất khi lên
thang. Nhiều trường hợp, mắt họ thành to,
lộ.
Nơi người
lớn tuổi, triệu chứng cường giáp trạng
thường mơ hồ: xuống cân, yếu mệt,
buồn sầu... Có khi những triệu chứng về tim
lại nhiều hơn: tim đập thất nhịp, suy
tim, đau ngực... Bệnh tuyến giáp trạng xảy
ra khá thường ở các vị lớn tuổi, triệu
chứng hay mơ hồ, nên khi các cụ có bất cứ
triệu chứng chi khác lạ, nhất là khi các cụ có
suy tim, hoặc tim thất nhịp, nếu cần thử
máu để t́m hiểu vấn đề, thường bác
sĩ cho thử cả T4 và TSH.
Sự định
bệnh dựa vào triệu chứng người bệnh
kể bác sĩ nghe, sự thăm khám, thử nghiệm
đo các chất T4, TSH trong máu, và nếu cần, chụp
phim “thyroid uptake”.
Khi thăm khám,
người cường tuyến giáp trạng trông có
vẻ căng thẳng, không yên. Da dẻ sờ thấy
ấm và ẩm, ḷng bàn tay hồng đỏ (palmar erythema). Các
móng tay hay bị tróc cao (nailbed separation), nhất là ở ngón
đeo nhẫn. Tóc họ mảnh, và mướt như
lụa (silky). Lưỡi cùng các ngón tay họ run run. Mắt
họ tṛn to, ít nháy, khi nh́n lên không thấy có vết nhăn
vùng lông mày. Các bắp thịt tay trên, các bắp thịt
đùi thử thấy yếu (proximal muscle weakness). Những
dấu chứng kể trên sẽ thuyên giảm với
sự chữa trị.
Tuyến giáp trạng
khám thấy to đều (99% các trường hợp cường
tuyến giáp trạng ở người trẻ), có khi
nổi cục, cũng có khi vẫn b́nh thường, không
to (ở 20-50% các vị có tuổi bị cường giáp
trạng, tuyến giáp trạng không to lên).
Khi thử máu, thấy
chất T4 trong máu lên cao, trong khi chất TSH trong máu lại
rất thấp (v́ tuyến năo thùy thấy chàng giáp trạng
nghe người xúi dại, đă sản xuất quá
nhiều T4, nên thương t́nh, vội bớt tiết TSH
đi, chẳng lẽ vẫn tiết ra TSH nhiều như
trước, thêm việc cho chàng giáp trạng). Khi làm “Radioactive
Iodine Uptake”, phim chụp tuyến giáp trạng sau khi cho người
bệnh dùng chất Iodine, thấy tuyến giáp trạng
hấp thụ chất Iodine phóng xạ nhiều hơn b́nh
thường.
Một bệnh hay gây
những triệu chứng tương tự như
bệnh cường tuyến giáp trạng, là bệnh
“căng thẳng tâm thần” (anxiety): cũng bứt
rứt, hồi hộp, hay run rẩy tay chân, cảm
thấy yếu, mệt... Thăm khám và thử máu có thể
phân biệt hai bệnh. Da người căng thẳng tâm
thần giá lạnh, trong khi da người cường
tuyến giáp trạng sờ ấm, ẩm. Người
căng thẳng tâm thần, nếu xuống cân, v́ chán
ăn (anorexia), trong khi người cường tuyến
giáp trạng ăn vẫn ngon, ăn nhiều là khác, mà
vẫn xuống cân. Khi thử máu, T4 và TSH của
người căng thẳng tâm thần b́nh thường,
v́... họ có cường tuyến giáp trạng đâu.
Chữa trị
Bệnh cường
tuyến giáp trạng cần được chữa
trị. V́ ngoài những triệu chứng khó chịu kể
trên, về lâu về dài, bệnh c̣n gây hư hoại các
bắp thịt (myopathy), suy tim (heart failure), xốp
xương (osteoporosis).
Có người bị
“cơn băo giáp trạng” thổi vào hôn mê, rồi nhanh chóng
từ giă cuộc đời. “Băo giáp trạng” (“thyroid
storm”) là một t́nh trạng cường tuyến giáp
trạng đột nhiên trở nặng, gây nóng sốt cao
102-106 độ F, tim đập trên 140 nhịp mỗi phút,
khiến cơ thể suy sụp toàn diện, áp huyết
xuống thấp, thần trí người bệnh hoảng
loạn, hôn mê. Cùng lúc, người bệnh buồn nôn, ói mửa,
tiêu chảy, vàng da. Chữa trị không kịp, không
đúng, tỉ lệ tử vong của “băo giáp trạng” lên
đến 50-60% (10 người, 5-6 người chết). “Băo
giáp trạng” có thể xảy ra khi người
cường tuyến giáp trạng, không chữa trị
hoặc chữa chưa đúng, bất ngờ phải
mổ khẩn cấp, hoặc bị nhiễm trùng, bị
chấn thương...
Có 3 cách để
chữa bệnh cường tuyến giáp trạng:
1. Dùng thuốc
uống:
Thuốc có tác dụng
ngăn sự tổng hợp chất T4 trong tuyến giáp
trạng. Hiện ở Mỹ, có hai thuốc
được sử dụng vào mục đích chữa
trị này: Propylthiouracil (PTU), và Tapazole. Thuốc PTU dùng
được trong lúc đang mang thai.
Thời gian dùng
thuốc kéo dài 1-2 năm. Sự chữa trị bằng thuốc
hiệu quả hơn ở những người có
tuyến giáp trạng không ph́nh to quá, mới phát bệnh
trong ṿng 6 tháng, dưới 40 tuổi, chỉ cần dùng
một lượng thuốc thấp cũng đủ
đưa tuyến về trạng thái b́nh thường. Người
cần thuốc với lượng cao, hoặc trước
đă từng chữa bằng thuốc, nay tái phát, chữa
thuốc sẽ không đem lại nhiều kết quả
mong muốn. Và tất nhiên, nếu bạn dùng thuốc không
đều, lúc uống lúc không, kết quả cũng
chẳng khả quan lắm.
Thuốc có thể gây
phản ứng khó chịu: ngứa, nổi mẩn, mề đay,
đau khớp, có vị kim khí trong miệng (metallic taste). Những
phản ứng này có thể bớt dần khi ta tiếp
tục thuốc. Hay đang dùng thuốc này, ta thử
đổi sang thuốc khác xem sao. Những phản ứng
nguy hiểm sau ít xảy ra hơn: viêm gan (hepatitis), suy
giảm các tế bào trong máu (agranulocytosis), viêm các mạch
máu (vasculitis with lupus-like syndrome). Những trường
hợp này, thuốc cần được ngưng, và bác
sĩ sẽ khuyên bạn dùng những chữa trị khác thay
v́ tiếp tục thuốc. Do thế, khi đang uống
thuốc, nếu có triệu chứng ǵ lạ, nhất là
khi vàng da, nóng sốt, ớn lạnh, đau cổ họng,
chảy máu nướu răng, bạn nên ngưng thuốc
và cho bác sĩ biết ngay.
Mục tiêu của
việc dùng thuốc là đưa các trị số của
chất T4 và TSH trở về b́nh thường, khiến
triệu chứng của bạn thuyên giảm. Việc này sớm
lắm cũng mất đến vài tuần mới
thực hiện được, nên trong thời gian
đầu, song song với việc cho bạn uống PTU hay
Tapazole, bác sĩ thường chữa bạn thêm với thuốc
có tên Inderal, để giúp bạn mau cảm thấy dễ
chịu.
Thoạt tiên, khi
mới dùng thuốc, bạn cần trở lại tái khám và
thử máu mỗi 1-3 tháng, để bác sĩ điều
chỉnh lại lượng thuốc bạn đang dùng
nếu cần, cho đến khi T4 và TSH trở về b́nh
thường. Sau đó, bạn cần tái khám mỗi 3-4 tháng
trong suốt thời gian chữa trị 1 đến 2
năm. Mỗi lần bạn đến tái khám, bác sĩ
sẽ theo dơi sức nặng, mạch, áp huyết của
bạn, cũng như sờ nắn, đo đạc
tuyến giáp trạng xem nó có nhỏ đi hay lớn thêm,
mềm hay cứng. Đồng thời thử máu đo
lại lượng T4.
Sau 18-24 tháng
chữa trị bằng thuốc, 1/4 đến một
nửa số người dùng thuốc sẽ khỏi
bệnh, số c̣n lại tái phát, thường trong ṿng 6
tháng sau khi ngưng thuốc. Cho nên, chữa trị xong,
bạn vẫn cần trở lại mỗi 4-6 tuần trong
ṿng 3, 4 tháng đầu để bác sĩ tiếp tục
theo dơi. 6 tháng sau khi dứt chữa trị, bạn trở
lại tái khám lần nữa. Nếu bạn khỏe,
lượng T4, TSH trong máu bạn vẫn b́nh thường,
bạn tái khám mỗi năm trong ṿng 2-3 năm đầu,
rồi sau có thể thưa dần đi.
2. Dùng chất phóng
xạ Iodine:
Cách chữa này hiện
rất thông dụng, dùng cho các vị lớn tuổi bị
cường tuyến giáp trạng, cho người trẻ
đă chữa bằng thuốc uống nhưng nay tái phát,
hoặc cho người không muốn hay v́ yếu quá, nên
không chịu được giải phẫu cắt
tuyến giáp trạng.
Chất phóng xạ
Iodine có tác dụng ngăn chặn sự tổng hợp chất
T4 trong tuyến giáp trạng, đồng thời làm các
tế bào của tuyến không thể sản sinh.
Để sửa
soạn cho việc chữa bằng chất phóng xạ Iodine 131I, người bệnh được chữa trước bằng thuốc PTU hoặc Tapazole hầu ổn định tuyến, đưa chất T4 trở về b́nh thường.
Thuốc ngưng 4-5 ngày
trước khi sự chữa trị bằng chất phóng xạ Iodine bắt đầu. Thường chỉ cần một lượng phóng xạ Iodine uống vào là đủ, trong ṿng 4-6 tháng sau, tuyến
giáp trạng sẽ không c̣n tiết nhiều T4 nữa. Trong lúc chờ đợi,
ta tiếp tục PTU hoặc Tapazole thêm một
thời gian, cho đến khi thử máu,
thấy chất T4 đă trở về b́nh thường.
Có khi, sau một
lượng phóng xạ Iodine, tuyến vẫn c̣n cứng
đầu, ta bồi thêm một lượng phóng xạ thứ hai.
Cách chữa
bằng chất phóng xạ Iodine 131I giản dị, hiệu quả, so ra lại rẻ
hơn phương pháp chữa bằng thuốc hoặc giải phẫu, nhưng không dùng được
khi người bệnh đang mang thai. Thỉnh
thoảng, người
có mắt lộ do cường tuyến giáp trạng, sau khi chữa bằng chất phóng xạ Iodine, mắt sẽ
lộ hơn. Cho đến nay, người ta không nghĩ rằng chất phóng xạ dùng chữa bệnh cường tuyến giáp trạng sẽ gây ung thư máu, các ung thư
khác, hoặc tàn tật cho
hài nhi sinh
bởi những phụ nữ trước từng được chữa bằng chất phóng xạ Iodine 131I.
Đa số người chữa với chất phóng xạ Iodine, sau sẽ bị suy tuyến giáp trạng
(hypothyroidism), và cần
uống chất T4 suốt đời. Trị
liệu với chất phóng xạ Iodine xong, ta theo dơi bằng cách đo chất
T4 trong máu mỗi 4-6 tuần trong ṿng 3-6 tháng đầu, rồi hàng năm sau đó.
3. Giải
phẫu cắt phần lớn tuyến giáp trạng (subtotal thyroidectomy):
Giải phẫu
cần trong trường hợp tuyến lớn quá, đè ép
các cơ quan chung quanh
gây khó chịu
ở cổ, khó thở, khó nuốt, ho. Giải phẫu cũng dùng cho người
uống thuốc không có hiệu
quả, song ngại ngùng, không muốn
chữa với chất phóng xạ Iodine.
Một số người chữa bằng giải phẫu, sau cũng suy
tuyến giáp trạng. Suy tuyến giáp
trạng, nếu xảy ra, sẽ
sớm hơn trường hợp chữa bằng chất phóng xạ Iodine, có thể trong ṿng 3-4 tuần sau khi mổ.
Người bệnh
cần được
theo dơi
giống như trường hợp chữa trị bằng chất phóng xạ Iodine.
Để tóm tắt, cường tuyến giáp trạng rất hay xảy ra, đặc biệt ở phụ nữ. Bệnh gây
những triệu chứng khó chịu, nhiều biến chứng tai hại. Sự
trị liệu (bằng thuốc, bằng chất phóng xạ Iodine, hoặc giải phẫu) cần đến sự hiểu biết tường tận của người bệnh, về căn bệnh của ḿnh, cũng như tác dụng của các cách
chữa. Cách nào đi nữa,
sau khi lành
bệnh, ta cũng vẫn phải được theo dơi
đều đặn,
đến suốt đời, v́ bệnh có thể
tái phát, hoặc, sau một thời gian, tuyến giáp trạng lại đâm suy.