KHÔNG NÊN LẠM DỤNG KHÁNG SINH
BÁC SĨ NGUYỄN VĂN
ĐÍCH
Mùa lạnh là mùa của các bệnh đường hô
hấp, kháng sinh (c̣n gọi trụ sinh) được
sử dụng nhiều, đa số các trường
hợp không cần thiết. Mời quí độc giả
đọc bài viết của Bác sĩ Nguyễn Văn
Đích, để hiểu sự nguy hiểm của
việc dùng kháng sinh bừa băi.
Bác sĩ Nguyễn Văn Đức
Kháng sinh là một nhóm
thuốc quư. Từ ngày t́m ra kháng sinh, chúng ta đă chữa
khỏi nhiều bệnh nhiễm trùng, cứu
được nhiều người, kéo dài tuổi thọ
của nhân loại. Kháng sinh đă được coi như
“thần dược”, nhưng cũng v́ thế mà bị
hiểu lầm, coi như có thể chữa được
bá bệnh, đưa đến lạm dụng. Sự
lạm dụng đưa đến hậu quả tai
hại là thay thế các vi trùng nhạy với kháng sinh
bằng các vi trùng kháng với kháng sinh. Nếu t́nh trạng
này cứ tiếp tục th́ chẳng bao lâu chúng ta sẽ
bị tước mất một vơ khí lợi hại
chống lại vi trùng và sẽ lùi trở lại t́nh
trạng của thời kỳ chưa có kháng sinh!
Kháng sinh là ǵ?
Kháng sinh là các hoá chất có thể tiêu diệt hoặc
kiềm hăm sự phát triển của vi trùng.
Năm 1928, Alexander Fleming nhận thấy rằng vi trùng
không thể sống được trong môi trường có
loại nấm Penicillium notatum. Ông chứng minh rằng
loại nấm này tiết ra một chất có khả
năng tiêu diệt vi trùng, gọi là penicillin. Từ 1940, các
bác sĩ đă dùng penicillin để điều trị
bệnh nhân.
Từ khám phá đầu tiên này, các nhà khoa học đă
t́m được các kháng sinh khác từ các loại nấm
khác như các kháng sinh aminoglycosides (streptomycin, kanamycin,
amikacin, ...) từ các loại nấm Streptomyces; gentamycin
từ Micromonospora purpurae có tác dụng đối với các
trực trùng gram âm và một số cầu trùng gram
dương; các kháng sinh cephalosporins từ Cephalosporium
acremonium có tác dụng đối với tụ cầu trùng
và các cephalosporin tổng hợp có tác dụng rộng;
chloramphenicol từ Streptomyces venezualae có tác dụng rộng
nhưng ít dùng v́ độc; erythromycin từ Streptomyces
erythreus thường dùng cho nhiễm trùng đường hô
hấp, v.v..
Penicillin và cephalosporins có cấu trúc chung là ṿng beta lactam có
đặc tính diệt khuẩn bằng cách phá hủy sự
tổng hợp thành của tế bào vi trùng.
Từ chất penicillin nguyên thủy, người ta
đă tạo ra các chất penicillin bán tổng hợp
bằng cách gắn một số nhóm hoá học vào phân
tử 6-aminopenicillamic acid, tạo ra các chất mới
như ampicillin, oxacillin, methicillin, ticarcillin, v.v., có thể
uống hoặc có thể chống lại men beta-lactamase
của vi trùng nên có tác dụng đối với tụ
cầu trùng và một số trực trùng gram âm.
Các chất tổng hợp như sulfamides thường
dùng trị nhiễm trùng đường tiểu và một
số nhiễm trùng khác; isoniazid, ethambutol, pyrizinamide,
ethionamide dùng trị lao; sự tổng hợp fluoroquinolones
từ acid nalidixic tạo ra một nhóm kháng sinh mới có tác
dụng rộng chống các trực trùng gram âm và một
số cầu trùng gram dương.
Tác dụng của kháng sinh
Kháng sinh diệt trùng bằng nhiều cách:
- Ngăn cản sự
tổng hợp thành của tế bào vi trùng như penicillin,
cephalosporin, vancomycin,
- Ức chế sự
chuyển hoá của vi trùng như sulfamides, trimethoprim,
- Ức chế sự
tổng hợp protein của vi trùng như tetracyclin,
aminoglycosides, macrolides (erythromycin…),
- Ức chế sự
tổng hợp và hoạt động của acid nucleic
như fluoroquinolones và rifampicin.
Sự lạm dụng kháng sinh
Như trên cho thấy, có nhiều loại kháng sinh khác
nhau, tác động bằng các cơ chế khác nhau
đối với các vi trùng khác nhau. Kháng sinh chỉ có tác
dụng với các bệnh do vi trùng (bacteria), không có tác
dụng với các bệnh do siêu vi (virus). Để
điều trị bệnh nhiễm trùng cần biết
loại vi trùng gây bệnh để chọn kháng sinh thích
hợp. V́ thiếu hiểu biết và v́ tin tưởng sai
lầm, nên ở khắp nơi trên thế giới,
nhất là ở các nước đang phát triển,
người ta đă dùng kháng sinh quá nhiều, cả khi không
cần thiết, không đúng chỉ định và không
đúng cách.
Năm 1954, Hoa kỳ sản xuất 1 ngàn tấn kháng
sinh, số này tăng đến 25 ngàn tấn vào năm
1998. Năm 2000, các bác sĩ Hoa
kỳ viết 160 triệu toa thuốc kháng sinh cho 275
triệu người dân, một nửa đến 2/3
số toa đó được coi là không cần thiết
(theo R.P.Wenzel b́nh luận trong báo New England Journal of Medicine).
Theo R. Gonzales (Clin.infec.Dis, 2001, 23:757-762), 3/4 số kháng sinh
dùng ở ngoại chẩn là cho viêm đường hô
hấp trên trong khi 60% các trường hợp viêm
đường hô hấp trên là do siêu vi, không cần và không điều
trị được bằng kháng sinh. Theo Nguyễn kim
Phượng và J. Chalker, báo cáo năm 1997 tại 23 trạm
y tế ở Hải pḥng, 69% bệnh nhân được
cho kháng sinh, 71% bệnh nhân không dùng kháng sinh đúng liều
lượng và đúng thời gian (dưới 5 ngày).
Tại các nước đă công nghiệp hóa, một
nửa số lượng kháng sinh được dùng để
nuôi súc vật và thủy sản trong công nghệ sản
xuất thực phẩm.
Dùng kháng sinh không đúng sẽ có hại
- Lăng phí, thí dụ các
bệnh do siêu vi không chữa được bằng kháng
sinh,
- Không khỏi bệnh, thí
dụ bệnh nhân bị lao phổi mà lại
được chữa bằng ampicillin,
- Chậm chẩn đoán,
thí dụ bệnh nhân bị viêm ruột thừa mà
được chữa bằng kháng sinh làm sai lạc
chẩn đoán,
- Tác dụng độc
hại như bị phản ứng mẫn cảm, dị
ứng, suy tủy do chloramphenicol, điếc và suy thận
do aminglycosides (streptomycin, kanamycin, gentamycin, ...).
- Đề kháng của vi
trùng đối với kháng sinh là hậu quả tai hại,
rộng lớn và lâu dài cho toàn xă hội.
Tỉ lệ vi trùng kháng thuốc đang tăng nhanh
Người ta đă chứng minh rằng càng dùng
nhiều kháng sinh càng sớm xuất hiện các vi trùng kháng
thuốc.
Khởi đầu penicillin (giá rất rẻ) có hiệu
quả đối với tụ cầu trùng và nhiều
loại vi trùng khác. Chẳng bao lâu sau khi được
sử dụng, tụ cầu trùng đă kháng penicillin,
khiến người ta phải t́m các kháng sinh như
nafcillin, methicillin (giá đắt hơn), v.v.. Ngày nay tụ
cầu trùng đă kháng cả methicillin (beta lactam). Các tụ
cầu trùng kháng methicillin trở thành tác nhân gây bệnh nguy
hiểm trong bệnh viện và sau này đă lan ra ngoài dân
chúng. Gần đây đă bắt đầu xuất
hiện các tụ cầu trùng kháng vancomycin là kháng sinh
cuối cùng c̣n lại để điều trị chúng.
Dùng cephalosporins bừa băi khiến enterococus trở nên
đề kháng và cũng đă xuất hiện các vi trùng
enterococus kháng vancomycin. Theo báo cáo của A.W. McCormick trên báo
Nature Medicine, tháng 4 năm 2003, tỉ lệ pneumococus kháng
penicillin tăng nhanh ở Hoa kỳ, tác giả dự tính
đến năm 2004, 41% pneumococcus sẽ đề kháng
penicillin. Tỉ lệ vi trùng lao kháng thuốc tăng cao
khiến phải dùng 4 thứ thuốc kết hợp
để điều trị bệnh lao.
Các vi trùng kháng thuốc không
khu trú ở một dịa phương nào v́ với
phương tiện giao thông mau lẹ, vi trùng có thể di
chuyển đến khắp nơi trên thế giới trong
ṿng 24 giờ.
Theo D.P. Raymond mỗi năm ở Hoa kỳ có 2 triệu
người bị nhiễm trùng v́ lây lan trong bệnh
viện, hơn một nửa số này là do vi trùng kháng
thuốc, gây tử vong cho 70 ngàn người và làm tốn
của ngân sách từ 5 đến 10 tỉ đô-la (Seminar
Respir. Crit, Care Med. 23 (5): 497-501, 2002).
Vi trùng kháng thuốc
bằng nhiều cách:
- Đặc tính di
truyền vốn có của vi trùng,
- Chọn lựa và đào
thải: kháng sinh tiêu diệt các vi trùng nhạy với kháng
sinh, để lại các vi trùng không nhạy; các vi trùng này
được dịp thuận lợi nên phát trtiển
mạnh mẽ v́ các đối thủ của chúng đă
bị tiêu diệt,
- Đột biến
về di truyền trong khi vi trùng sinh sản khiến
xuất hiện các chủng mới có đặc tính kháng
thuốc,
- Đặc tính kháng
thuốc ở trong gien của vi trùng truyền từ
thế hệ trước đến thế hệ sau,
nghĩa là lan truyền theo chiều dọc,
- Gien kháng thuốc
khiến cho vi trùng có thể giảm sự xâm nhập
của thuốc vào trong tế bào vi trùng, phá hủy kháng sinh
hoặc thải trừ kháng sinh ra khỏi vi trùng,
- Vi trùng có gien kháng
thuốc có thể truyền gien này cho tất cả các vi
trùng khác khiến cho sự đề kháng lan rộng theo
chiều ngang nghĩa là nhân lên gấp bội.
Các lư do dẫn đến lạm dụng kháng sinh
1. Do bệnh nhân:
Nhiều người tưởng rằng kháng sinh
chữa được mọi thứ bệnh nên mỗi
khi đau ốm đều nghĩ rằng cần dùng kháng
sinh. Có người lại thích tự điều trị,
đă tự mua hay t́m kháng sinh để dùng hoặc nghe
bạn bè mách thuốc dù rằng những người này
không biết ǵ về bệnh tật và thuốc men.
Nhiều người lại không dùng thuốc đúng cách,
nghĩa là không uống đủ số lượng phân
chia trong 24 giờ hoặc chỉ uống thuốc trong vài
ngày rồi bỏ.
Tại các nước đang phát triển, nhiều
người không đủ tiền đă phải mua
thuốc từng ngày, do đó không điều trị
đủ liệu tŕnh. Cũng tại các nước
đang phát triển, những người bán thuốc không
được huấn luyện về y khoa và thuốc men,
tự động chỉ định thuốc cho bệnh
nhân, nghiễm nhiên làm nhiệm vụ của thầy
thuốc.
2. Do bác sĩ:
Trong thực tế hàng ngày, nhiều khi tuy biết
rằng không có chỉ định nhưng bác sĩ vẫn
viết toa kháng sinh theo bệnh nhân đ̣i hỏi v́ sợ
mất thân chủ. Bác sĩ cũng hay viết toa kháng sinh
v́ chẩn đoán không rơ ràng, v́ thiếu phương
tiện chẩn đoán vi trùng học nên dùng kháng sinh,
nhất là là loại có kháng sinh phổ rộng để
điều trị bao vây, tin rằng làm như thế là an
toàn.
Cũng tại các nước đang phát triển có t́nh
trạng bác sĩ bán thuốc cho bệnh nhân nên có thể có
sự mâu thuẫn giữa kiến thức khoa học và
quyền lợi thực tế. Ở nhiều nơi trên
thế giới, bác sĩ được các hăng thuốc
chiêu đăi, được mời đi dự các buổi
thuyết tŕnh về thuốc do hăng bào chế sản xuất
đài thọ.
Không nên lạm dụng kháng sinh
Các nhà chuyên môn đă báo động về hậu quả
nguy hiểm của sự lạm dụng kháng sinh từ
nhiều chục năm nay. Năm 1981, sau hội nghị
ở Santa Domingo, các nhà chuyên môn đă thành lập “Liên
Hiệp v́ sự Sử
Dụng Kháng Sinh Hợp Lư” (Alliance for the Prudent use of
Antibiotics) có thành viên thuộc 93 quốc gia nhằm chống
lại sự lan tràn của các bệnh do vi trùng kháng
thuốc tại các nước đang phát triển.
Năm 2001, Tổ Chức Y
Tế Thế Giới đă đề ra “Kế Hoạch
Toàn Cầu để Kiểm Soát Sự Đề Kháng Kháng
Sinh”. Kế hoạch đề cập đến mọi
hoạt động y tế của tất cả các
quốc gia đă phát triển cũng như đang phát
triển:
- Cần giáo dục
bệnh nhân về khám, chữa bệnh và dùng thuốc theo
sự hướng dẫn của thày thuốc, dùng
thuốc đúng cách, đúng liều lượng,
đủ liệu tŕnh, không yêu cầu bác sĩ viết
kháng sinh theo ư ḿnh (!), không tự chữa bệnh, tự dùng
thuốc;
- Bác sĩ cần
để thời giờ giải thích cho bệnh nhân
về chỉ định của kháng sinh và cách dùng
thuốc đúng, cần cập nhật hoá kiến thức
y khoa, cần biết rơ t́nh h́nh bệnh nhiễm của
địa phương, cần thẳng thắn từ
chối viết toa kháng sinh theo yêu cầu của bệnh
nhân;
- Phải tiến
đến sự phân biệt giữa y và dược: bác
sĩ không bán thuốc cho bệnh nhân, dược tá,
dược sĩ không chỉ định thuốc, phải
quy định cần có toa của bác sĩ mới
được mua kháng sinh;
- Các hăng bào chế phải
tôn trọng những quy định về quảng cáo trong
mục đích bảo vệ sức khoẻ của
người bệnh, hướng sự quảng cáo vào
việc dùng thuốc đúng và có lợi cho bệnh nhân và
nền y tế;
- Ngành dược cần
cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu,
ngăn ngứa sự lưu hành của các thuốc
giả, 5% lượng thuốc lưu hành tại các
nước đang phát triển là thuốc giả mạo,
không đúng phẩm chất, hàm lượng hoặc không có
hoạt chất;
- Pḥng thí nghiệm phải
tăng cường khả năng chẩn đoán các
bệnh nhiễm trùng, giúp chẩn đoán nhanh chóng và chính
xác, đo lường độ nhạy của kháng sinh,
đo nồng độ kháng sinh trong máu;
- Bệnh viện phải
có người phụ trách về dịch tễ, đề
pḥng lây lan, theo dơi sự áp dụng phương pháp vô trùng
và khử trùng dụng cụ, theo dơi t́nh h́nh dịch
bệnh và sự sử dụng kháng sinh trong bệnh
viện; phải có danh mục thuốc thiết yếu và phác
đồ hướng dẫn sự điều trị;
- Các trường
đại học cần huấn luyện sinh viên
đầy đủ về bệnh nhiễm, cách dùng kháng
sinh và sự đề kháng của vi trùng đối
với kháng sinh;
- Cần tăng
cường chủng ngừa các bệnh nhiễm trùng;
- Các nước đă công
nghiệp hóa phải xem xét và hạn chế việc dùng
kháng sinh trong nông nghiệp.
Nếu ngăn ngừa được sự phát
triển của các vi trùng kháng thuốc chúng ta sẽ
bảo vệ được môi trường sống, duy
tŕ được sự hữu hiêu của kháng sinh,
hạn chế được chi phí về y tế và
cứu đươc nhiều sinh mạng.